Chúng tôi xin điểm lại 10 sự kiện nổi bật của thị trường lúa gạo Việt Nam của năm, trong đó chúng tôi cố gắng phác họa một cách cô đọng những diễn biến quan trọng nhất ảnh hưởng đến thị trường.
Một cách tổng quát nhất, những con số vĩ mô của ngành lúa gạo đã tạo ấn tượng rất tốt cho lãnh đạo Chính phủ và các nhà quản lý Bộ ngành về các chỉ tiêu căn bản (i), Sản lượng lúa đạt trên 42 triệu tấn  trong đó chủ trương mở rộng vụ 3 thể hiện quyết tâm chính trị đúng lúc thị trường hỗ trợ về giá; (ii), Xuất khẩu đạt trên 7 triệu tấn thu về khoảng 3,7 tỷ USD; (iii), Giá gạo nội địa không bị phi mã vào cuối năm góp phần lạm phát không bị vuột khỏi tầm kiểm soát; (iv), Nghị định 109 – một khung khổ chính sách toàn diện bắt đầu có hiệu lực. NHƯNG năm 2011 là một năm không hề suôn sẻ với cộng đồng doanh nghiệp xuất khẩu gạo – rất nhiều doanh nghiệp đã và ĐANG phải nếm trải những “trái đắng” của “thị trường-con ngựa bất kham”. Chúng tôi hy vọng năm 2012 thị trường sẽ có nhiều yếu tố thuận lợi hơn giúp cho lợi nhuận của cộng đồng doanh nghiệp được dồi dào hơn.
1.       Giá lúa năm 2011 đạt mức cao, người nông dân đã được một năm được cả mùa lẫn được cả giá. Sản xuất ra bao nhiêu tiêu thụ bấy nhiêu. Vụ Đông Xuân 2010-2011, giá lúa IR50404 đạt mức 5500 và nhích lên 6000 đồng/kg. Vụ Hè Thu 2011, theo thông lệ giá sẽ giảm vì chất lượng xấu nhưng giá lúa đã lên mức đỉnh 7500 đồng/kg.
2.       Xuất khẩu gạo vượt mốc 7 triệu tấn. Năm 2010, xuất khẩu gạo Việt Nam đạt mức 6,8 triệu tấn, được coi là mức kỷ lục. Lượng tồn kho chuyển qua năm 2011 ở mức thấp cộng với sự điều chỉnh chính sách của Philippines về nhập khẩu nên vào đầu năm dấy lên lo ngại xuất khẩu cả năm 2011 sẽ khó đạt mức cao. Tuy nhiên, thị trường đã được hỗ trợ bởi nhu cầu của Indonesia, Malaysia, Bangladesh, và cả mua thương mại đi châu Phi đã giúp Việt Nam năm 2011 phá mốc kỷ lục xuất khẩu của năm 2010.
3.       Nghị định 109 quy định về điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo đi vào thực thi. Tính đến ngày 20/12/2011 đã cấp phép cho 150 doanh nghiệp đủ điều kiện xuất khẩu gạo, ngoài ra có 4 doanh nghiệp FDI cũng được cấp phép. Kỳ vọng ban đầu của những nhà hoạch định chính sách và cả các doanh nghiệp lớn ngành gạo duy trì khoảng 80 doanh nghiệp xuất khẩu, tuy nhiên số lượng đăng ký được cấp phép đã vượt xa dự kiến.
4.       Năm 2011, Philippines quyết tâm điều chỉnh chính sách nhập khẩu gạo với kế hoạch chỉ còn 860 ngàn tấn và NFA không còn độc quyền nhập khẩu. Điều chỉnh chính sách của Philippines – thị trường gạo lớn nhất Việt Nam trước đây – đã làm cho xuất khẩu gạo Việt Nam bị ảnh hưởng rất lớn về lượng xuất khẩu sụt giảm và mức giá không còn thuận lợi như trước đây.
5.       Thay đổi chính sách thu mua lúa giá cao của Thái Lan đã ảnh hưởng sâu rộng đến thị trường gạo thế giới. Giá thu mua của Chính phủ được đưa ra cao đã làm cho xu hướng đầu cơ của Thái Lan tăng mạnh và đẩy giá xuất khẩu đi lên, ảnh hưởng sang cả Việt Nam theo hướng đầu cơ nguyên liệu và tăng chào giá.
6.       Ấn Độ quay trở lại thị trường gạo thế giới khi cho phép xuất khẩu 2 triệu tấn gạo NON-BAMASTI, giá gạo xuất khẩu của Ấn Độ duy trì mặt bằng thấp với gạo 5% tấm chỉ ở mức 450 USD/tấn, cạnh tranh mạnh với giá gạo Thái và Việt Nam. Ấn Độ cùng với Pakistan đã trở thành điểm đến của các nhà nhập khẩu gạo thế giới-đặc biệt là khách hàng châu Phi. Giới thương mại gạo đang dự đoán Ấn Độ không dừng lại ở mức xuất khẩu 2 triệu tấn gạo Non-Bamasti mà sẽ còn có thể tăng thêm nữa.
7.       Trung Quốc nổi lên thành một trong những thị trường xuất khẩu gạo quan trọng của Việt Nam. Năm 2009 xuất khẩu gạo Việt Nam sang Trung Quốc đạt 123 ngàn tấn, tăng vọt từ mức chỉ gần 20 ngàn tấn năm 2009. 11 tháng năm 2011, xuất khẩu gạo Việt Nam sang Trung Quốc đạt 297 ngàn tấn. Sự nổi lên của Trung Quốc là rất đáng quan tâm và có khả năng đây sẽ là một thị trường triển vọng trong tương lai.
8.       Gạo thơm trở thành một nhân tố quan trọng trong cơ cấu xuất khẩu gạo của Việt Nam. Năm 2010, xuất khẩu gạo thơm của Việt Nam tăng khá, và Việt Nam đã cạnh tranh mạnh với Thái Lan ở thị trường gạo HongKong. Năm 2011, Xu hướng này càng được đẩy mạnh khi gạo Thái Lan giảm năng lực cạnh tranh do giá tăng. Năm 2012, trong bối cảnh đầu năm còn nhiều ảm đạm, thị trường châu Phi bị Ấn Độ và Pakistan cạnh tranh quyết liệt thì gạo thơm là một trong những hy vọng quan trọng của Việt Nam.
9.       Năm 2011, Việt Nam chủ trương tăng cường sản xuất vụ 3 để tăng sản lượng. Trong quá trình triển khai đã gặp phải lũ lớn đã ảnh hưởng đến sản xuất lúa và có nhiều ý kiến trái chiều về sản xuất lúa vụ ba. Song tác động của lũ đến sản lượng không nhiều trong khi thị trường được giá nên vụ ba vẫn đem lại kết quả tốt cho người nông dân. Theo Cục Trồng trọt kết quả sản xuất lúa vụ ba năm 2011 với diện tích xuống giống đạt 671.763/602.400 héc ta theo kế hoạch, cao hơn cùng kỳ 2010 (511.535 héc ta) là 160.228 héc ta; năng suất bình quân ước 4,92 tấn/héc ta, tăng 0,28 tấn/héc ta so cùng kỳ; sản lượng ước đạt 3.300.000 tấn, tăng 930 ngàn tấn so với vụ 3 năm trước.
10.   Năm 2011 là một năm đầy biến động của thị trường gạo toàn cầu và cả thị trường nội địa – đặt ra những thử thách hết sức quan trọng đối với doanh nghiệp xuất khẩu gạo Việt Nam. Những biến động của thị trường gạo về (i), Sự thay đổi của thị trường tập trung – Philippines; (ii) Biến động kinh tế vĩ mô – lãi suất cao; (iii), Thái Lan điều chỉnh chính sách thu mua lúa và Ấn Độ quay trở lại thị trường với mức giá thấp; (iv), xu hướng đầu cơ và biến động mạnh của giá nguyên liệu; (v), nhiều doanh nghiệp ngoài ngành đầu tư vào chế biến và xuất khẩu gạo…cho thấy ĐANG DẦN HÌNH THÀNH MỘT MÔI TRƯỜNG CẠNH TRANH HƠN và BIẾN ĐỘNG HƠN, nó đưa lại KẾT QUẢ NHƯ SAU:
10.1.Mặt bằng giá thay đổi theo hướng LỢI NHUẬN RÒNG có được từ khoảng cách giữa giá xuất khẩu và giá nguyên liệu/thành phẩm đã bị THU HẸP. Trước đây, LỢI NHUẬN RÒNG giữa các mức giá này là CAO và ỔN ĐỊNH, thì nay trở đi không còn nhiều như trước đây nữa và nhiều khi sự biến động của các giá này còn trái chiều nhau
10.2.    Trước những thay đổi quan trọng của thị trường, doanh nghiệp đứng trước những thách thức của sự điều chỉnh linh hoạt hơn, có thể có một vài gợi ý như sau:
10.2.1.           Xây dựng một chiến lược khác biệt hóa trong các phân khúc thị trường hay trong sản phẩm cũng như những sáng tạo trong bất cứ một khâu nào của chu trình sản xuất đến thương mại. Điều này đòi hỏi rất mất thời gian và công sức trong điều chỉnh cả bộ máy vẫn hành cũng như các thay đổi về công nghệ, đầu tư…
10.2.2.           Cần có những điều chỉnh trong guồng máy quản lý theo hướng: Quá trình ra quyết định cần được nhanh nhạy trong đó có sự kết nối mạnh mẽ hơn giữa bộ phận SALE/KINH DOANH với ban giám đốc tối cao để đưa ra các quyết định kịp thời và hợp lý về THỜI ĐIỂM/MỨC tạm trữ cũng như giá chào.
10.2.3.           Quảng bá thương hiệu và chiến lược marketing để gây dựng các bạn hàng thân thiết và dài hạn. Ví dụ, công tác thông tin cũng được cần đẩy mạnh hơn, phát triển trang web công ty (tiếng Anh) cũng như ấn phẩm định kỳ (newsletter tiếng Anh) để giữ mối liên hệ và quảng bá hình ảnh doanh nghiệp đến khách hàng (chủ yếu là người nước ngoài).
Chúng tôi cho rằng các gợi ý này đối với doanh nghiệp vẫn là những bài bản của sách giáo khoa và không có gì mới, và cũng không thể đúng hết cho tất cả các doanh nghiệp. Mỗi doanh nghiệp trong các điều kiện cụ thể của mình và tham vọng của mình sẽ có những định hướng và hành động đột phá riêng. Song cảm nhận của chúng tôi đó là thị trường lúa gạo đang và SẼ có những thay đổi rất mạnh mẽ, áp lực cạnh tranh ngày càng nhiều hơn, sự đào thải thị trường ngày càng diễn ra nhanh mạnh hơn – rất cần những sự chuẩn bị và định hướng không ngoan cho tương lai.
Thitruongluagao.com – AgroMonitor

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *