Thêm một quyết định nữa của Bộ Công Thương nhận được sự ủng hộ tích cực từ các doanh nghiệp kinh doanh lúa gạo, đó là bãi bỏ quy hoạch về thương nhân kinh doanh xuất khẩu gạo (ban hành kèm Quyết định 6139). Nhưng để thị trường lúa gạo thông thoáng hoàn toàn, và đặc biệt, doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể tham gia bình đẳng vào thị trường này, các điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo trong Nghị định 109/2010/NĐ-CP cần được tiếp tục sửa theo hướng bãi bỏ các điều kiện không cần thiết như hiện nay.

Điều kiện gia nhập thị trường bất hợp lý
Bãi bỏ quy hoạch thương nhân xuất khẩu gạo, nghĩa là từ nay, doanh nghiệp bớt được một thủ tục – “xin” vào quy hoạch (theo quy hoạch, số lượng doanh nghiệp được tham gia xuất khẩu gạo bị khống chế tối đa là 150). Nhưng vẫn còn một điều kiện khác, theo Nghị định 109, gây khó khăn nhiều cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa muốn gia nhập thị trường, là quy định về nhà kho chuyên dùng, về cơ sở xay xát. Theo đó, để tham gia xuất khẩu, doanh nghiệp được yêu cầu phải có ít nhất một kho chuyên dùng với sức chứa tối thiểu 5.000 tấn lúa, phù hợp quy chuẩn chung do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành và có ít nhất một nhà máy xay xát với công suất tối thiểu 10 tấn/giờ. Quy định mang tính phân biệt đối xử theo quy mô, tạo ra rào cản tham gia thị trường với doanh nghiệp nhỏ và vừa, góp phần làm lợi cho các doanh nghiệp lớn nhưng ảnh hưởng xấu đến thị trường về nhiều mặt.
Các quy định này là không hợp lý, can thiệp hành chính quá sâu vào hoạt động của doanh nghiệp. Trong hoạt động kinh doanh, các doanh nghiệp có những cách thức tổ chức và quản lý làm sao cho tối ưu hiệu quả với các nguồn lực và điều kiện của mình.
Tại sao phải yêu cầu một doanh nghiệp phải có kho chứa 5.000 tấn, có cơ sở xay xát mới được xuất khẩu? Nếu không có nhà kho, doanh nghiệp hoàn toàn có thuê một doanh nghiệp khác đang có kho chứa, nếu không có cơ sở xay xát, doanh nghiệp cũng có thể thuê một cơ sở xay xát khác làm những việc đó. Tổ chức theo mô hình chuỗi, mỗi công đoạn được chuyên môn hóa và có thể do những tác nhân thị trường khác nhau đảm nhiệm, là những điều hoàn toàn bình thường và tự nhiên trong kinh tế thị trường. Vậy nên, những yêu cầu như trên là hoàn toàn không “bình thường” từ cơ quan quản lý nhà nước.
Ngoài chuyện kho chứa, máy xay, vẫn còn một loạt những thủ tục hành chính khác được quy định trong Nghị định 109 can thiệp quá sâu vào hoạt động của doanh nghiệp; từ việc yêu cầu thương nhân mua gạo phải thông báo trước với chính quyền đến việc họ phải đăng ký hợp đồng xuất khẩu gạo với Hiệp hội Lương thực Việt Nam…
Xuất khẩu gạo, có cần thiết là ngành kinh doanh có điều kiện?
Xét về bản chất, xuất khẩu gạo không cần thiết là ngành kinh doanh có điều kiện.
Thứ nhất, trong lĩnh vực này, vấn đề Nhà nước cần quan tâm chỉ nên là an ninh lương thực quốc gia. Với vấn đề an ninh lương thực thì điều kiện kinh doanh không phải là công cụ để giải quyết, mà nó đã được giải quyết bằng hệ thống dự trữ lương thực quốc gia (cũng cần mở ngoặc thêm, yêu cầu về dự trữ lưu thông bằng 10% số lượng gạo mà thương nhân đã xuất khẩu trong sáu tháng trước đó quy định trong Nghị định 109 cũng là một yêu cầu hành chính không hợp lý với doanh nghiệp bởi dự trữ là nhiệm vụ của Nhà nước, không thể yêu cầu một nhóm nhỏ doanh nghiệp phải hy sinh lợi ích riêng của mình trong khi hệ thống dự trữ quốc gia đã tồn tại và đang hoạt động).

Cần xem xét lại mục đích và tách bạch các công cụ quản lý để đạt được ba mục tiêu (1) An ninh lương thực, (2) Hỗ trợ của Nhà nước để khuyến khích các dòng sản phẩm gạo xuất khẩu chất lượng và giá trị cao; (3) Điều tiết thị trường xuất khẩu gạo khi ban hành nghị định mới.

Thứ hai, nếu lo ngại có quá nhiều thương nhân tham gia thị trường, làm hỗn loạn thị trường, làm ảnh hưởng đến uy tín hạt gạo Việt Nam thì đã có các công cụ quản lý khác điều chỉnh chứ không cần là điều kiện kinh doanh. Vấn đề chất lượng và thương hiệu gạo Việt Nam đã có cách giải quyết bằng yêu cầu hậu kiểm: gạo phải đáp ứng tiêu chuẩn về chất lượng mới được xuất khẩu. Kiểm soát chặt chẽ chất lượng hạt gạo trước khi cho xuất khẩu đó là yêu cầu hoàn toàn hợp lý và doanh nghiệp chắc chắn không có lý do gì phản đối.
Như thế, dù không phủ nhận xuất khẩu gạo ảnh hưởng đến an ninh lương thực quốc gia nhưng theo tôi, giải pháp giải quyết vấn đề hoàn toàn không nằm ở điều kiện kinh doanh.
Sửa Nghị định 109 như thế nào?
Trong bối cảnh kinh doanh xuất khẩu gạo vừa được Quốc hội đưa vào danh mục các ngành kinh doanh có điều kiện, kế hoạch sửa Nghị định 109 như Bộ Công Thương vừa công bố là cơ hội tốt nhất để khắc phục những bất hợp lý nêu trên. Ngoài việc bãi bỏ một số thủ tục hành chính gây phiền toái theo Quyết định 4846 của Bộ Công Thương, điều quan trọng nhất trong lần sửa này là bãi bỏ các điều kiện mang tính cản trở gia nhập thị trường như quy định kho bãi và cơ sở xay xát… Việc trao quyền quá lớn cho Hiệp hội Lương thực Việt Nam (qua thủ tục đăng ký hợp đồng xuất khẩu với tổ chức này thì mới được khai báo hải quan) cũng cần được cân nhắc lại.
Cần xem xét lại mục đích và tách bạch các công cụ quản lý để đạt được ba mục tiêu (1) An ninh lương thực, (2) Hỗ trợ của Nhà nước để khuyến khích các dòng sản phẩm gạo xuất khẩu chất lượng và giá trị cao; (3) Điều tiết thị trường xuất khẩu gạo khi ban hành nghị định mới. An ninh lương thực nên là trách nhiệm của Nhà nước, can thiệp qua công cụ hệ thống dự trữ; công cụ thuế có thể hỗ trợ thêm cho mục tiêu này (để hạn chế xuất khẩu khi thấy có rủi ro thiếu hụt gạo trong nước). Còn mục tiêu điều tiết thị trường cần chuyển qua các công cụ hậu kiểm (tiêu chuẩn và kiểm tra tuân thủ) chứ không sử dụng điều kiện “tiền kiểm” như hiện nay.
Các doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng nên tranh thủ dịp sửa Nghị định 109 lần này để lên tiếng và bảo vệ quyền lợi hợp lý của mình. Có như thế, xuất khẩu gạo mới có thể được “cởi trói”.
Nguồn: https://www.thesaigontimes.vn/155951/Can-coi-troi-hon-nua-thi-truong-xuat-khau-gao.html

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *