Dù còn nhiều dư địa cho xuất khẩu gạo, nhất là các loại gạo cao cấp sang các thị trường thế giới, song cũng còn nhiều điểm “nghẽn” khiến cho hạt gạo Việt vẫn còn khó khăn khi tiếp cận các thị trường khó tính.

Hiện các thị trường có nhu cầu gạo cao cấp mà các doanh nghiệp Việt Nam có thể xuất khẩu (XK) là: Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Hongkong… Điều đáng nói là nhiều DN vẫn đang lúng túng trước đòi hỏi quá cao của thị trường và chưa biết chọn hướng đi nào cho phù hợp.
Xác định rõ thị trường trọng điểm
Ông Lê Huy Hàm, Viện trưởng Viện Di truyền nông nghiệp đưa ra gợi ý rằng, các doanh nghiệp Việt Nam (DNVN) nên lựa chọn thị trường Nhật Bản, Hàn Quốc và tập trung phát triển giống gạo hạt tròn (Japonica). Theo ông, mỗi năm Nhật Bản nhập khẩu 770.000 tấn gạo Japonica, còn Hàn Quốc 440.000 tấn. Bên cạnh đó, giá gạo Japonica cao gấp hai đến ba lần so với giá gạo trung bình mà các DN VN đang XK khoảng 700 – 1.500 USD/tấn.
Ông Akira Ichikawa, Tổng giám đốc chi nhánh Cty Lương thực Seibu Nousan tại VN cho biết, thị trường Nhật có nhu cầu nhập khẩu gạo cao cấp rất lớn, nhưng đòi hỏi chất lượng cao. Theo ông, tính khắt khe của các cơ quan Nhật Bản nằm ở khâu kiểm định dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, các DN sẽ phải đảm bảo mỗi hạt gạo đáp ứng hơn 600 tiêu chuẩn về dư lượng hóa chất Đơn cử như Nhật Bản đưa ra hai danh sách gồm Positive List (những chất được có trong sản phẩm dưới liều lượng cho phép) và Negative List (những chất cấm trong sản phẩm) với hàng trăm tên chất phụ gia và các thành phần trong thuốc bảo vệ thực vật thì những thị trường dễ tính hơn như Hongkong hay Singapore chỉ có Negative List.
Theo ông Akira Ichikawa, hai lý do khiến hạt gạo VN chưa vào được thị trường Nhật, thứ nhất là dư lượng thuốc bảo vệ thực vật; thứ hail à tỉ lệ gạo Indica (gạo hạt dài) bị lẫn trong gạo Japonica cao (hơn 17%).
“Thói quen sản xuất manh mún của người nông dân, những gia đình có ruộng gần nhau trồng những loại gạo khác nhau dẫn đến gạo thu hoạch lẫn lộn Japonica và Indica. Việc tự do phun thuốc bảo vệ thực vật ngay trước thời điểm thu hoạch nên dẫn đến dư lượng hóa chất lớn, khó vào được các thị trường cao cấp” – ông Akira Ichikawa kết luận.
Hay như thị trường Singapore, mỗi tháng nhập khẩu gần 200.000 tấn gạo nhưng đòi hỏi chất lượng gạo phải cao. Doanh nghiệp Cỏ May – một DN tư nhân đang XK loại gạo Nosavina để đưa vào thị trường. Tuy nhiên, để đảm bảo chất lượng hạt gạo, DN này đã phải nhập các loại máy móc của Nhật Bản để chế biến cũng như máy tách màu để loại gạo khác màu và chỉ giữ những hạt gạo màu trắng, đảm bảo tỉ lệ tấm trong gạo Nosavina chỉ 0-4%. Ông Phạm Văn Bên, chủ DN này tính toán, giá gạo Thái Lan đang bán tại Singapore khoảng 2 USD/kg. Gạo Nosavina có chất lượng cao, nhưng chỉ cần bán cho hệ thống siêu thị chừng 1,2 USD/kg thì cả DN và nông dân đều có lợi. “Gạo VN nếu đầu tư bài bản thì chẳng kém gì gạo Thái, có chăng chúng ta đang thua họ ở cách tổ chức sản xuất và XK” Ông Bên nhìn nhận.
Cơ cấu lại sản xuất
Gần đây, để nâng cao chất lượng gạo XK, nhiều DN đã tìm đến các tổ chức chuyên nghiệp và có kinh nghiệm để hỗ trợ, tư vấn nâng cao chất lượng.
Tập đoàn Lộc Trời là một ví dụ, tập đoàn này đã phối hợp với IFC, một thành viên của nhóm Ngân hàng Thế giới, mở rộng áp dụng các tiêu chuẩn và thực hiện sản xuất theo các tiêu chuẩn và thông lệ canh tác của Tổ chức Lúa gạo bền vững (SRP) – một tổ chức hợp tác đa phương, nhằm tăng cường sử dụng tài nguyên hiệu quả và bền vững ở từng nông hộ cũng như xuyên suốt chuỗi giá trị lúa gạo. Tuy nhiên, số lượng DN nắm bắt được xu thế và áp dụng các phương pháp sản xuất lúa gạo cao cấp để XK như Lộc Trời hiện không nhiều.
Dù rằng, Đề án Phát triển thương hiệu gạo quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn 2030 cũng chỉ rõ, mục tiêu của VN đến năm 2030, gạo thơm và gạo đặc sản sẽ chiếm khoảng 30% tổng lượng hàng hóa này XK. Tuy nhiên, các chuyên gia nói rằng sẽ khó đạt được mục tiêu nếu cách làm vẫn như hiện nay.
Theo TS. Nguyễn Đỗ Anh Tuấn, Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược phát triển Nông nghiệp nông thôn, công việc này không thể tiến hành trong ngày một, ngày hai mà phải xử lý hết từ cơ cấu giống đến thủy lợi, quy trình canh tác…
Còn ông Lê Văn Bành, Cục trưởng Cục chế biến nông-lâm-thủy sản và nghề muối (Bộ NN&PTNT) cho rằng, quan trọng nhất hiện nay là hạt gạo VN phải có thương hiệu, có số lượng lớn, đồng đều, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật đảm bảo trong tiêu chuẩn cho phép. “Muốn làm tốt thì DN phải có vùng nguyên liệu, phải có giống thuần, đồng bộ như vậy mới chiến lượng xây dựng thương hiệu gạo mới thành công”- ông Bành nhấn mạnh.
Nguồn://enternews.vn/cua-hep-cho-xuat-khau-gao-viet-nam-ky-ii-diem-nghen-xuat-khau-gao-sang-thi-truong-cao-cap.html

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *