Cây lúa hạt gạo, lạ thay, âm ỉ tạo ra mạch sống, tạo ra cả nền văn hóa đầy ắp tâm thức Việt. Trong chiều sâu thăm thẳm hơn bốn nghìn năm của dải đất hình chữ S, mầu vàng của biển lúa luôn khắc đậm trong tâm trí người Việt. Trong các giai đoạn khủng hoảng, sự tăng trưởng của nông nghiệp vẫn trở thành tấm đệm che đỡ, góp phần tích cực giải quyết an sinh xã hội. Đến nay, cây lúa vẫn luôn là cây trồng chủ lực, là sản phẩm chuyên môn hóa cao nhất đồng bằng Nam Bộ.
1. Hạt gạo Việt ẩn chứa bản lĩnh Việt, làm sáng danh hai chữ Việt Nam. Ba năm liên tiếp gần đây, xuất khẩu gạo của nước ta luôn đạt kỷ lục cả về số lượng lẫn giá trị. Năm 2011 là năm thăng hoa nhất, lập “kỷ lục” của kỳ tích: gần hai tháng nữa mới trọn năm nhưng đã xuất khẩu được 6,7 triệu tấn gạo, đạt kim ngạch hơn 3,1 tỷ USD; dự báo cuối năm khối lượng xuất khẩu sẽ đạt 7,5 triệu tấn, đem lại giá trị “ngất ngưởng”, hơn 3,7 tỷ USD.
Riêng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), tổng lượng gạo xuất khẩu từ đầu năm đến cuối tháng 11-2011 đã là 5,8 triệu tấn. Tổng giá trị xuất khẩu đạt hơn 2,8 tỷ USD. Năm nay, người nông dân Nam Bộ ngập tràn niềm vui bởi cả ba vụ lúa đông xuân, hè thu, thu đông đều trúng mùa, được giá (cao nhất từ trước đến nay). Sản lượng lúa cả năm ước đạt 22,8 triệu tấn, tăng gần 1,3 triệu tấn so năm 2010.
Quá trình 25 năm đổi mới đã giúp Việt Nam từ chỗ phải nhập khẩu cả triệu tấn lương thực vào đầu những năm 1980, nay trở thành quốc gia xuất khẩu nhất nhì thế giới. Tự hào hơn khi năm qua hạt gạo Việt Nam “thắng”, mở ra thế và lực mới trong sự thắt ngặt, đầy chao đảo biến động của nền kinh tế thế giới, trong bối cảnh “bão dồn lũ dập” dâng đầy những cánh đồng lúa của đồng bằng phía bắc, của khúc ruột miền trung và lượng nước lũ đỏ ngầu đổ về sông Tiền, sông Hậu, cao nhất trong gần chục năm qua tại châu thổ Cửu Long…
Sự tăng trưởng liên tục về số lượng và giá trị suốt nhiều năm qua cho thấy “sức trẻ” của hạt gạo Việt Nam. Vẫn cuồn cuộn, sôi động; vẫn rạo rực, luôn trào sức sống. Năm sau mạnh hơn, “cường tráng” hơn năm trước. ĐBSCL có tốc độ tăng sản lượng lúa bình quân hằng năm đạt 11%, cao hơn của cả nước (7,8%), đồng bằng sông Hồng (5,35%) trong cùng thời kỳ. Mỗi năm, hạt gạo vùng châu thổ cuồn cuộn phù sa này đóng góp hơn 90% lượng gạo xuất khẩu cả nước chính là minh chứng sống động đầy thuyết phục về độ sung sức của đồng bằng.
“Ù ù tiếng sấm/ Xay xay cho đều”. Ta phổng phao lớn vậy là nhờ sự nhọc nhằn của người làm ra hạt gạo, nhiều khi đâu chỉ ướt sũng mồ hôi mà còn cả sinh linh, máu thịt. Khi nước ta ngẩng mặt tự hào bởi vị trí thứ hai xuất khẩu gạo của thế giới, hạt gạo Việt có mặt trên 100 quốc gia, lớp cháu con vẫn luôn nghe văng vẳng tiếng gió bấc mưa rơi ào ào lên vai cha vai mẹ; tiếng phảng gạt lau chặt sậy nơi rừng sâu nước độc hòa tiếng gập ghềnh của đoàn người hành phương Nam, lang thang trên sóng nước bập bềnh… Cái đói kinh hoàng khiến cả triệu người chết năm Ất Dậu 1945 không chỉ cho thấy nỗi đau mất nước mà còn để ta nâng niu hơn giá trị của hạt gạo hôm nay. Hạt gạo Việt càng lóng lánh hơn khi người ta giật mình nhớ lại thủa chưa xa mẹ vun đầy “hạt ngọc” cho con, dằn bụng ra ruộng bằng củ khoai lát sắn…
2. “Sức trẻ” đồng bằng bền vững nhờ được nuôi dưỡng, quyện chặt với cội nguồn và truyền thống. Nghề trồng lúa nước đã tạo ra cả một nền văn minh lúa nước. Ngay từ buổi đầu hình thành làng xã sơ khai, thần Nông đã được đem vào đình làng thờ chung với Thành Hoàng. Hằng năm, các ngôi đình ở Nam Bộ tổ chức hai kỳ lễ lớn là Kỳ yên thượng điền và Kỳ yên hạ điền. Dịp này, người ta đều bày vật phẩm cúng thần Nông – vị thần trông coi lúa gạo, dạy dân cày cấy, giúp cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu. Lễ cúng thần Nông đáp ứng nhu cầu đời sống văn hóa tâm linh của người Việt; phản ánh chính sách khuyến nông, trọng nông. “Nước lấy dân làm gốc, dân lấy cái ăn là Trời. Tuy có cảnh tình, mây lành, chim phụng kỳ tập, kỳ lân ra đời, chẳng bằng được mùa là điềm lành trên hết!”, sách xưa kể lại vị hoàng đế của nhà nông, vua Minh Mạng, từng nói vậy.
“Hạt ngọc” nhỏ “li ti” nhưng ẩn chứa, oằn nặng tính nhân sinh, hiện diện suốt chiều dài và sự thăng trầm dân tộc. Hạt gạo, hạt ngọc. “Hạt ngọc” của Đất và Nước, là mồ hôi đổ tràn đồng của mẹ của cha, là trí lực của tất cả những ai tâm huyết với “chân quê”, vun vén cho hạt gạo. Ở một đất nước còn nặng thuần nông như dân tộc Việt điều đó thấy rõ lắm.
“Ai ơi bưng bát cơm đầy/Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần”. Có một dấu son cần khắc ghi thật đậm cho tất cả nông dân Việt Nam. Khói lửa các cuộc trường chinh giữ nước đã nhuộm đầy những tấm áo nâu sồng; họ bỏ lại vợ trẻ con thơ, xa lìa vườn ruộng ao cá cầm súng ra trận. Tan trận mạc, “Súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa”, họ lại lặng lẽ hòa mình vào khói rơm đốt đồng, sấp ngửa âu lo trên mảnh ruộng làng…
3. Hơn 300 năm rồi những lưu dân tha hương và con cháu của họ đã ngày đêm khai phá, biến vùng đất nê địa “Dưới sông sấu lội trên rừng cọp kêu” trở thành vựa lúa lớn nhất nước nhà. Trên 130 năm trước, gạo tròn Gò Công hay gạo dài Vĩnh Long đã vượt biển, tiên phong mở đường “Tây du” sớm nhất cả nước. Lượng nông phẩm lớn nhất của Đông Dương là lúa gạo, đạt 2.140.000 tấn xuất cảng năm 1937 với diện tích canh tác ở Nam Kỳ tăng mạnh từ 522.000 ha năm 1880 đến 2 triệu 2 ha năm 1937. Chính hạt gạo đã nâng đỡ cho toàn bộ nền thương mại Nam Kỳ thủa đó.
Sức trẻ của cây lúa hạt gạo đồng bằng hôm nay “chín chắn”, trưởng thành hơn rất nhiều cha ông thủa trước. Những đàn trâu dũng mãnh vượt đồng tung nước trắng xóa mùa nước nổi; những mảnh ruộng mỗi năm một vụ lúa dần lùi xa. Tôi cảm phục cái nheo mắt đầy tự tin của nông dân Cao Thị Cương (Long Phú, Sóc Trăng), người Khmer. Mỗi năm bà thu về cả tỷ bạc trên 180 công đất của mình. “Mấy chục năm làm lúa chỉ có thắng ít hay nhiều, chưa năm nào tôi bị rớt cả”. Cả đời gắn với mảnh ruộng, miệt mài tích cóp mà tạo nên sản nghiệp lớn. Sáu người năm xe mô-tô lại vừa tậu thêm chiếc xe du lịch đời mới trị giá 37 nghìn USD. Phải biết cách làm để thắng, phải biết chỗ ngặt để qua là bí quyết của bà. Cách đó không xa là anh nông dân Trần Văn Hữu chễm chệ trên chiếc máy liên hợp Kubota (Nhật Bản) vừa mua 720 triệu, chưa kể máy xới, máy cắt, máy sấy, sắm từ trước…
Năng động; sáng tạo; ham học hỏi, cầu tiến khoa học kỹ thuật và công nghệ mới, dám nghĩ dám làm là phẩm chất của người nông dân châu thổ, của tất cả những người nông dân Việt Nam thế hệ mới. Sức sống cho cây lúa hôm nay, cho sức trẻ đồng bằng bắt nguồn từ những người như vậy.
Phong trào “Cánh đồng mẫu lớn” hứa hẹn một nền sản xuất hàng hóa lớn, lời giải bài toán thoát nghèo đằng đẵng bao năm qua xuất hiện ngày càng nhiều. Riêng tại ĐBSCL đã thu hút hơn 6.400 hộ nông dân ở 12/13 tỉnh, thành với diện tích khoảng 8.000 ha, kích thích nhiều “nhà” cùng tham gia. “Nông dân nhỏ – cánh đồng lớn” gắn với hiệu quả chính sách “Tam nông” và xây dựng “Nông thôn mới”: Áp dụng đồng bộ các tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất trên diện tích lớn, qua đó rút ngắn khoảng cách chênh lệch về năng suất giữa các hộ nông dân, các thửa ruộng, các vùng sản xuất; nâng cao tính liên kết, hợp tác giữa các “nhà” đồng thời gia tăng chất lượng lúa gạo làm nền tảng cho việc sản xuất theo tiêu chuẩn Global GAP, xây dựng thương hiệu gạo Việt trên thương trường…
“Ai ơi ai ơi gạo trắng nõn nà/Thế gian no đủ thế là xong cơm”. Hạt gạo đồng bằng, sức trẻ đồng bằng mai này sẽ vẫn luôn căng tràn sức sống, giúp chúng ta tự tin, đĩnh đạc hơn khi bước ra biển lớn.
Vũ Thống Nhất – Nhân Dân

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *