2011 có thể coi là năm đại thắng của sản xuất lúa gạo: Vượt qua những diễn biến bất lợi của thời tiết và thiên tai, đạt sản lượng và số lượng xuất khẩu kỷ lục, vượt chỉ tiêu Nghị quyết 11 của Chính phủ giao, lợi nhuận của người trồng lúa đạt trên 30%. Bước sang năm 2012, sản xuất lúa gạo phải làm gì để có thể đáp ứng được yêu cầu của thị trường, mở rộng xuất khẩu. Chúng tôi có cuộc trò chuyện với ông Nguyễn Trí Ngọc, Cục trưởng Cục Trồng trọt (Bộ Nông nghiệp và PTNT), người luôn trăn trở tìm cách để hạt gạo Việt Nam.
Mức kỷ lục trong lịch sử
Thưa ông, sản xuất nông nghiệp trong năm 2011, đặc biệt là lúa gạo, đã thắng lợi lớn khi sản lượng đạt mức kỷ lục chưa từng có. Ông có thể chia sẻ niềm vui này được không?
Đúng là chưa năm nào sản xuất lúa gạo đem lại niềm vui lớn cho nông dân và cả những nhà hoạch định chính sách như năm nay. Kế hoạch của ngành đề ra là đạt 40 triệu tấn, sau đó trong Nghị quyết 11, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu phải tăng thêm 1 triệu tấn nữa, đưa mục tiêu lên 41 triệu tấn. Thực hiện Nghị quyết 11, ngay từ đầu năm, ngành nông nghiệp đã quyết tâm chỉ đạo phải đạt được mục tiêu đề ra. Suốt một năm qua, sản xuất lúa gạo liên tục gặp phải khó khăn, hết hạn hán lại bão lũ… Song, không những đạt kế hoạch mà ngành còn vượt cả chỉ tiêu Chính phủ giao, sản lượng lúa gạo cả năm ở mức 41,5 triệu tấn.
Để có kết quả này, chúng ta đã vượt qua không ít khó khăn trong tất cả các vụ sản xuất. Vụ đông xuân ở miền Bắc gặp hạn hán, rét đậm, rét hại kéo dài tới 33 ngày, thời vụ trễ tới 20 ngày. Còn ở miền Nam, hết sâu bệnh lại đến nước mặn ngập sâu đất liền, vụ hè thu chúng tôi đã cố gắng đẩy sớm lên để thu hoạch chạy mưa nhưng khi quyết định mở rộng diện tích lên 100.000ha thì lại gặp lũ sớm, kéo dài, đỉnh lũ cao… Tuy nhiên, bù lại nơi đây lại được mùa lớn nhất, góp phần vào thắng lợi tăng thêm khoảng 1,5 triệu tấn lúa.
Không chỉ sản lượng thu hoạch tăng mà sản lượng xuất khẩu cũng đạt mức kỷ lục, theo ông, điều này có ý nghĩa như thế nào đối với đời sống người trồng lúa?
Tính đến hết ngày 5/12/2011, chúng ta đã xuất khẩu được 6,8 triệu tấn gạo và có hợp đồng tiếp tục xuất khẩu hết tháng 12, khả năng vượt 7 triệu tấn là chắc chắn. Nhưng điều đáng mừng hơn nữa là giá trị hạt gạo của chúng ta đã đạt bình quân trên 500 USD/tấn, đây là mức khá cao, do đó đã tạo ra giá trị xuất khẩu trên 3,5 tỷ USD. Điều đáng phấn khởi là tốc độ tăng sản lượng không nhanh bằng tốc độ tăng giá. Điều này chứng minh giá thị trường tăng nhưng nguyên nhân chủ quan theo tôi là do chất lượng gạo đã có chuyển biến rõ rệt nhờ tiến bộ kỹ thuật được nông dân áp dụng ngày càng sâu rộng vào ruộng đồng.
Chúng ta phát huy lợi thế đó là để giải quyết công ăn việc làm, tăng giá trị cho sản xuất nông nghiệp, tăng giá trị xuất khẩu. Và như vậy, người sản xuất có lợi, một phần đạt được mục tiêu mà Chính phủ giao là người trồng lúa phải có lãi từ 30% trở lên.
Đầu tư nâng cao giá trị
Một trong những tin vui của ngành lúa gạo là Thái Lan đã “nhường” ngôi vị xuất khẩu số 1 cho Việt Nam. Và để xứng đáng với ngôi vị này, năm 2012, sản xuất lúa gạo sẽ phát triển theo hướng nào, thưa ông?
Trước hết, phải xuất phát từ lợi ích của nông dân và phải hiểu rằng sản xuất lúa gạo là lợi thế của chúng ta. Đây là vấn đề đã được lịch sử sàng lọc, chứ không đơn thuần là vì an ninh lương thực thế giới. Chúng ta không thể học theo kiểu của Thái Lan là tập trung vào gạo chất lượng cao, vì diện tích đất canh tác của Việt Nam ít, trong khi dân số đông nên chúng ta phải đẩy mạnh thâm canh, tăng vụ, lấy gạo chất lượng trung bình trở lên là chủ yếu.
Tất nhiên, chúng ta cũng phải xác định đi theo hướng nâng cao giá trị sản xuất của ngành trồng lúa, tăng giá trị cho cả người lao động lẫn doanh nghiệp xuất khẩu. Chúng ta vẫn nói phải phát huy lợi thế nhưng nếu không cải tiến thì không thể trở thành lợi thế. Cái Việt Nam có là nhân công giá rẻ, nhưng chuyển dịch cơ cấu lao động cũng đang diễn ra mạnh mẽ trong nông nghiệp, do đó, một trong những giải pháp để nâng cao giá trị là dồn điền đổi thửa, từ đó tạo ra sản phẩm hàng hóa. Muốn vậy, phải đưa nhanh cơ giới vào sản xuất mới giảm được giá thành và cạnh tranh với thị trường khác. Và ngay trong vụ đông xuân năm 2011-2012, chúng tôi yêu cầu mỗi địa phương chỉ xuống tối đa 5 giống và không quá 20% diện tích/giống.
Không chỉ chú trọng số lượng, chúng ta cũng phải tính tới việc xây dựng hình ảnh cho hạt gạo Việt Nam. Xin ông cho biết, việc làm này đã được ngành triển khai như thế nào?
Để xây dựng thương hiệu gạo Việt Nam, Bộ Nông nghiệp và PTNT đã định hướng quy hoạch trong việc đầu tư và khai thác các giống lúa ở vùng tập trung, phù hợp với điều kiện sản xuất lúa xuất khẩu, tổ chức thành vùng sản xuất hàng hóa tập trung, xây dựng cánh đồng mẫu lớn, canh tác theo quy trình GAP nhằm tạo khối lượng lúa đồng bộ, tạo điều kiện xây dựng thương hiệu gạo.
Bên cạnh đó là áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong việc cải tạo giống, đảm bảo chất lượng lúa ổn định, phát triển công nghệ sau thu hoạch, bảo quản tốt khâu tồn trữ, xây dựng quy chuẩn về các nhà máy xay xát gạo xuất khẩu, hệ thống kho dự trữ gạo…, tạo điều kiện cho việc xây dựng thương hiệu.
Bài toán giữ đất lúa
Quốc hội đã thông qua Nghị quyết giữ 3,8 triệu hecta đất lúa, trong đó giữ 3,2 triệu hecta đất chuyên trồng lúa. Theo ông, điều đó có ý nghĩa như thế nào đối với vấn đề an ninh lương thực quốc gia?
Đây là quyết định có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với an ninh lương thực và sự phát triển bền vững, ổn định của đất nước. Dân số chúng ta đông, tốc độ gia tăng mỗi năm là 1 triệu người, trong khi ruộng đất không đẻ ra, thậm chí còn mất đi cho các công trình công cộng và phúc lợi xã hội, chưa kể sự bất lợi của biến đổi khí hậu. Do đó, có thể bây giờ dư thừa gạo xuất khẩu nhưng tới một lúc nào đó chúng ta sẽ chỉ đủ ăn, thậm chí phải nhập khẩu. Khi ấy nếu mất an ninh lương thực nghĩa là mất ổn định xã hội. Vì vậy, đảm bảo an ninh lương thực chính là đảm bảo đất trồng lúa – tư liệu không thể thay thế.
Chúng ta đã có các chính sách tạo điều kiện cho người trồng lúa, song trên thực tế, không ít nông dân “chán” lúa và bỏ hoang đất trồng hoặc chuyển đổi sang cây trồng khác. Chúng ta cần làm gì để giúp nông dân gắn bó với loại cây trồng truyền thống này, thưa ông?
Tại sao nông dân lại không gắn bó với nghề trồng lúa? Lý do hiển nhiên là hiệu quả kinh tế thấp, thu nhập không bằng nghề khác. Nhưng tôi khẳng định đó là những chuyện nhỏ, manh mún chỉ xảy ra ở một số nơi. Tuy nhiên, nếu chúng ta không giải quyết thỏa đáng thì nó sẽ lan tỏa thành vấn đề lớn.
Để giữ đất lúa, ông cha ta phải mất hàng triệu năm, nhưng chuyển đổi thì rất nhanh và sẽ không có gì bù đắp được. Vì vậy, chúng tôi sẽ ban hành Nghị định về quản lý và sử dụng đất trồng lúa. Trong đó có quy định quản lý chặt chẽ đối với đất trồng lúa, đất chuyên trồng lúa. Đi kèm với đó là chính sách đối với địa phương chuyên trồng lúa cũng như người trồng. Chúng tôi hy vọng với Nghị định này, địa phương sẽ biết họ được hưởng những ưu đãi gì, còn nông dân biết họ được cái gì để yên tâm giữ lúa.
Bên cạnh đó, chúng ta cũng phải hiểu rằng đất trồng lúa là động chứ không cố định, nghĩa là trên diện tích đó chúng ta có thể trồng cây hàng năm và khi cần vẫn có thể chuyển sang trồng lúa. Mục đích là chuyển đổi cây trồng, nâng cao hiệu quả nhưng không làm mất kết cấu cũng như chất đất.
Xin cảm ơn ông!
Thitruongluagao.com – theo KTNT

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *