Cầu cao, nguồn cung hạn chế đẩy giá gạo Đông Xuân tăng mạnh

Các tỉnh đầu nguồn khu vực Đồng bằng sông Cửu Long như An Giang, Đồng Tháp đang thu hoạch lúa Đông Xuân, diện tích thu hoạch nhỏ nên sản lượng còn khá thấp, trong khi nhu cầu trên thị trường tăng đã đẩy giá gạo trong tuần qua tăng mạnh.

Vụ Đông xuân 2020- 2021 đã bắt đầu nhưng nguồn cung vẫn ở mức thấp, chỉ 5% -6% sản lượng được thu hoạch, đến cuối tháng 2 hoặc đầu tháng 3 mới thu hoạch rộ nên thương mại lúa gạo diễn ra khá chậm chạp do người mua đang chờ thu hoạch cao điểm.
Từ ngày 25/1, giá lúa ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) bắt đầu tăng đến nay vẫn duy trì ở mức cao từ 200 – 300 đồng/kg. Cụ thể, ngày 31/1/2021, tại An Giang, IR 50404 tươi mua tại ruộng dao động từ ở mức 7.000 -7.100 đồng/kg; Đài thơm 8 giá 7.500 đồng/kg; OM 5451 giá 7.100 đồng/kg; lúa Jasmine 7.000 đồng/kg; OM 9577 6.900 đồng/kg; OM 9582 7.000 đồng/kg; nếp khô 7.700 đồng/kg.
Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), ngày 29/1, gạo trắng 5% tấm của Việt Nam đước chào bán giá 523 USD/tấn, gạo 25% giá 498 USD/tấn. Gạo 5% tấm Thái Lan giá 530 USD/tấn, gạo 25% tấm giá 507 USD/tấn. Gạo 5% tấm Ấn Độ giá 388 USD/tấn, gạo 25% tấm giá 348 USD/tấn.
Tuần qua vẫn còn có các tàu nhận gạo xuất khẩu đi Philippines trước khi doanh nghiệp Việt Nam nghỉ Tết âm lịch

CÁC THỊ TRƯỜNG CHÍNH VẪN DUY TRÌ LƯỢNG GẠO NHẬP KHẨU
Hiện nay, các thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam như Philippines, châu Phi… tiếp tục ký hợp đồng mua gạo của Việt Nam và giá gạo đang ở mức rất lạc quan. Dự báo, xuất khẩu gạo năm 2021 vẫn duy trì tín hiệu lạc quan cả về sản lượng và giá bán.
Philippines vẫn sẽ nổi lên là nhà nhập khẩu gạo nhiều nhất thế giới và là thị trường số 1 của gạo Việt Nam cho đến hết năm 2021 với dự kiến sản lượng nội địa sẽ giảm.
Nhận định về thị trường gạo xuất khẩu trong năm 2021, ông Mohit Agarwal, Giám Đốc kinh doanh mảng Gạo Công ty TNHH Olam Việt Nam cho rằng, Trung Quốc vẫn sẽ tiếp tục duy trì lượng mua gạo từ Việt Nam giống như năm 2020.
Tại một số thị trường truyền thống của Việt Nam như Philippines, Indonesia, Malaysia vẫn duy trì lượng mua gạo như năm 2020. Indonesia đã tăng mua gạo Việt Nam gấp 3 lần so với cùng kỳ năm 2019. Thị trường Malaysia không có gì đặc biệt, riêng thị trường Iraq năm 2020 đã giảm 65% lượng gạo mua của Việt Nam so với 2019.
Trong 5 năm vừa qua, nhu cầu gạo của châu Phi luôn tăng đều lên và dự kiến nhu cầu gạo ở thị trường này trong năm 2021 vẫn tăng như năm 2020.
Theo Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA), trong năm 2021, dự kiến nhập khẩu gạo của Philppines sẽ tăng 15%, tương đương 3 triệu tấn. USDA đã hạ dự báo nhập khẩu cho Philippines từ 3,3 triệu tấn trước đó.
Trong năm 2021, Philippines vẫn sẽ là nhà nhập khẩu hàng đầu vì Trung Quốc dự kiến chỉ mua 2,2 triệu tấn. Luật thuế quan được ban hành vào năm 2019 đã giúp lượng gạo nhập khẩu nhiều hơn trên thị trường và làm giảm giá gạo xay xát nói chung.
Tuy nhiên, Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) trích phát biểu của, Bộ Nông nghiệp (DA) Philippines mới đây cho biết nhập khẩu gạo của nước này trong năm 2021 có thể giảm 15,5% xuống 1,69 triệu tấn, do gạo thu hoạch chưa xay xát đạt mức cao kỷ lục dự kiến là 20,48 triệu.
Theo Thứ trưởng Nông nghiệp Philippines Ariel T. Cayanan, dự báo sản lượng gạo chưa xay xát cả năm trong nước năm 2020 sẽ đạt 20,48 triệu tấn, cao hơn 5,35% so với sản lượng ước tính là 19,44 triệu tấn năm ngoái. Sản lượng cao hơn trong năm nay sẽ đưa mức tự cung tự cấp gạo của đất nước lên 95% từ 90% của năm ngoái. Ông cho biết sản lượng cao kỷ lục trong năm nay có thể đạt được bằng cách thực hiện liên tục các biện pháp can thiệp của chính phủ bao gồm quỹ nâng cao năng lực cạnh tranh gạo và dự án khả năng phục hồi của gạo.

HẠN MẶN ĐE DỌA ĐẾN SẢN XUẤT LÚA GẠO Ở ĐBSCL
VFA cho biết, để đảm bảo kim ngạch và khối lượng xuất khẩu gạo năm 2021 tiếp tục duy trì mức tương đương hoặc cao hơn năm 2020, VFA đề ra một số giải pháp phát triển thị trường, tiếp cận thị trường nước ngoài thông qua các Thương vụ Việt Nam ở nước ngoài.

VFA cũng đã xây dựng các kênh chào hàng trực tuyến và tham gia các hội thảo về thương mại theo hình thức trực tuyến để phát triển ngành hàng gạo. Các sản phẩm cũng sẽ tập trung vào những loại chất lượng cao, đang có kết quả xuất khẩu tốt…
Tuy nhiên, hạn năm dự báo đến sớm và diễn biến phức tạp tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến vùng sản xuất lúa trọng điểm của cả nước.
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, mùa khô hạn năm 2021 tại ÐBSCL đang bắt đầu, nguồn nước ở thượng nguồn so với bình quân nhiều năm đang bị sụt giảm, do tác động của dòng chảy thượng nguồn cực đoan, do các quốc gia sử dụng nước thượng nguồn sông Mekong cho hoạt động kinh tế, thủy điện, chia sẻ nguồn nước… Mực nước hiện nay ở Tân Châu, Châu Ðốc thấp hơn cùng kỳ nhiều năm và dự báo tháng 2, tháng 3 tới sẽ tiếp tục sụt giảm, gây khô hạn, thiếu nước cho vùng ÐBSCL. Vì vậy, ngay bây giờ các địa phương trong vùng cần lên kế hoạch ứng phó…
Theo Cục Trồng trọt, tính đến ngày 14/01/2020, các tỉnh, thành phố vùng ĐBSCL đã xuống giống vụ Đông Xuân 2020 – 2021 được 1,352 ha/1,550 triệu ha diện tích kế hoạch, đã thu hoạch được hơn 100 ngàn ha với năng suất khoảng 4,65 tấn/ha.
(Nguồn : Bizlive)

Trung Quốc tăng nhập khẩu gạo Việt gấp 2,7 lần

Trong 4 tháng đầu năm 2020, Philipppines vẫn đứng vị trí thứ nhất về thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam. Đáng chú ý, Trung Quốc tăng cường nhập khẩu gạo từ Việt Nam, gấp 2,7 lần.

Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) cho biết tính đến ngày 15/5, khối lượng gạo xuất khẩu đạt 2,6 triệu tấn, trị giá 1,2 tỉ USD, tăng 5,3% về lượng và 18,6% về giá trị so với cùng kì năm 2019.

Tính chung, khối lượng gạo xuất khẩu tháng 5 năm 2020 ước đạt 789.000 tấn với giá trị đạt 415 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị xuất khẩu gạo 5 tháng đầu năm 2020 đạt gần 2,9 triệu tấn và 1,41 tỉ USD, tăng hơn 5% về khối lượng và tăng gần 19% về giá trị so với cùng kì năm 2019.

Trong 4 tháng đầu năm 2020, Philipppines vẫn đứng vị trí thứ nhất về thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam với 40,5% thị phần, khối lượng đạt 902.100 tấn, trị giá 401,3 triệu USD, tăng 11,4% về khối lượng và tăng 26% về giá trị so với cùng kì năm 2019.

Ngoài ra, thị trường Trung Quốc cũng tăng cường nhập khẩu gạo từ Việt Nam, gấp 2,7 lần so với cùng kì năm 2019, Đài Loan tăng gần 68% và Gana tăng 39,3%.

Giá gạo xuất khẩu bình quân 4 tháng đầu năm 2020 đạt 470,2 USD/tấn, tăng 10% so với cùng kì năm 2019.

Về chủng loại xuất khẩu, trong bốn tháng đầu năm 2020, giá trị xuất khẩu gạo trắng chiếm 42,7% tổng kim ngạch; gạo jasmine và gạo thơm chiếm 35,2%; gạo nếp chiếm 16,5%; gạo japonica và gạo giống Nhật chiếm 5,4%.

Trong đó, Trung Quốc là thị trường xuất khẩu gạo nếp lớn nhất của Việt Nam với 152,4 triệu USD, chiếm 68,7%, Phillipines với 23,9 triệu USD, chiếm 10,8% và Malaysia với 14,8 triệu USD, chiếm 6,7%.

Các thị trường xuất khẩu gạo trắng lớn nhất của Việt Nam là Philippines với 288,4 triệu USD, chiếm 62,4%, Malaysia với 63,2 triệu USD, chiếm 13,7% và Ghana với 13,3 triệu USD, chiếm 2,9%.

Với gạo jasmine và gạo thơm, thị trường xuất khẩu lớn nhất là Philippines với 156,3 triệu USD, chiếm 37,4%, Ghana với 52,0 triệu USD, chiếm 12,4% và Gabon với 42,9 triệu USD, chiếm 10,2%.

Điều đáng mừng là, giá gạo xuất khẩu  của Việt Nam đã tăng đáng kể, lên mức cao nhất trong vòng 1 năm trở lại đây, đạt 450 – 460 USD/tấn.

Trong khi đó, giá gạo Thái Lan giảm trong tháng qua do nguồn cung mới được bổ sung và khó khăn về hạn hán giảm xuống, đồng thời phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt từ các nhà cung cấp giá rẻ hơn của Ấn Độ và Việt Nam.

Nhu cầu đối với gạo Thái Lan không biến động nhiều trong những tuần gần đây nhưng các nhà xuất khẩu gạo của nước này kì vọng khách hàng Philippines sẽ quan tâm tới gạo Thái Lan khi giá giảm, dù vấp phải sự cạnh tranh mạnh mẽ từ gạo Việt Nam.

Hiện, gạo tiêu chuẩn 5% tấm của Thái Lan được niêm yết ở mức 480 – 505 USD/tấn, giảm so với đầu tháng 5 được niêm yết là 557 USD/tấn. Gạo đồ 5% tấm của Ấn Độ tăng từ mức 378 – 383 USD/tấn lên 385 – 389 USD/tấn.

Cũng theo Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản so với tháng trước, hoạt động logistics tại các nước sản xuất lớn như Ấn Độ và Việt Nam đang dần hồi phục sau dịch COVID-19, giúp cho lượng cung ứng gạo ra thị trường thế giới được cải thiện hơn.

Trung Quốc, Philipppines, Bangladesh tăng mua lúa gạo vì COVID-19

Philippines đang tìm nguồn nhập khẩu thêm 300.000 tấn gạo, Bangladesh cũng đang thu mua thêm 200.000 tấn lúa từ vụ thu hoạch đang diễn ra, còn Trung Quốc cho phép thương nhân trong nước nhập khẩu thêm một lượng nhất định với mức thuế suất chỉ còn 1%.

Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) cho biết giá lúa, gạo tại khu vực ĐBSCL diễn biến từ ổn định đến tăng nhẹ trong tháng 5 vừa qua.

Cụ thể, từ ngày 1/5, Chính phủ đã cho phép xuất khẩu gạo trở lại bình thường qua các cửa khẩu quốc tế (đường bộ, đường sắt, đường biển, đường thủy, đường hàng không). 

Theo đó, tại An Giang, lúa IR50404 duy trì ở mức 5.400 đồng/kg; lúa OM 5451 giảm 200 đồng/kg xuống 5.500 đồng/kg; lúa OM 6976 ổn định ở mức 5.600 đồng/kg; lúa gạo thường ổn định ở mức 11.000 đồng/kg; gạo thơm đặc sản jasmine ở mức 14.500 đồng/kg. 

Tại Vĩnh Long, lúa IR50404 ướt tăng 200 đồng/kg lên mức 5.700 đồng/kg, lúa khô tăng 100 đồng/kg lên mức 6.000 đồng/kg; lúa hạt dài ướt tăng 200 đồng/kg lên 5.900 đồng/kg, lúa khô tăng 400 đồng/kg lên 6.200 đồng/kg.

Tại Bạc Liêu, lúa Đài Thơm 8 ổn định ở mức 5.800 – 5.900 đồng/kg; lúa OM 5451 ở mức 5.500 – 5.600 đồng/kg.

Tại Kiên Giang, lúa IR50404 tăng 200 đồng/kg lên mức 5.800 – 5.900 đồng/kg; lúa OM 6976 tăng 200 đồng/kg lên 6.500 – 6.800 đồng/kg; lúa OM 5451 tăng 100 đồng/kg lên 6.700 – 6.900 đồng/kg.

Về tình hình xuất khẩu, khối lượng gạo xuất khẩu tháng 5 năm 2020 ước đạt 789.000 tấn với giá trị đạt 415 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị xuất khẩu gạo 5 tháng đầu năm 2020 đạt gần 2,9 triệu tấn và 1,41 tỉ USD, tăng hơn 5% về khối lượng và tăng gần 19% về giá trị so với cùng kì năm 2019.

Nhu cầu lớn đã đẩy tăng giá gạo xuất khẩu 5% tấm của Việt Nam lên mức cao trong gần một năm nay là 450 – 460 USD/tấn.

Philipppines đứng vị trí thứ nhất về thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam  trong 4 tháng đầu năm với 40,5% thị phần, khối lượng đạt 902.100 tấn và giá trị là 401,3 triệu USD, tăng 11,4% về khối lượng và tăng 26% về giá trị so với cùng kì năm 2019

Đáng chú ý, theo Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản Philippines đang tìm nguồn nhập khẩu thêm 300.000 tấn gạo để tăng cường kho dự trữ Chính phủ nhằm đối phó với đại dịch COVID-19 và chuẩn bị cho mùa có nguồn cung thấp điểm hàng năm vào quý III.

Do đó, các doanh nghiệp Việt Nam cần lưu ý đến sự cạnh tranh gay gắt từ các nhà xuất khẩu gạo Thái Lan nhằm đạt được sự quan tâm của các nhà nhập khẩu gạo Philippines.

Bên cạnh đó, Bangladesh cũng đang thu mua thêm 200.000 tấn lúa từ vụ thu hoạch đang diễn ra để đảm bảo nguồn cung cho các hoạt động cứu trợ nội địa trong bối cảnh đại dịch COVID-19 đang lây lan ở nước này.

Ngoài ra theo nguồn tin từ Hiệp hội Lương thực Việt Nam, Trung Quốc hiện đã thực hiện 95% mục tiêu tự túc lương thực (gạo, ngô, lúa mì) nhưng vẫn cho phép nhập khẩu một lượng nhất định thông qua hệ thống hạn ngạch phi thuế quan (TRQ) cho phép các thương nhân trong nước nhập khẩu với mức thuế suất chỉ còn 1% so với mức ngoài hạn ngạch 65%.

Theo dự báo mới nhất của Bộ Nông nghiệp Mỹ, sản lượng gạo của thế giới năm 2020 ước đạt 493,8 triệu tấn, giảm khoảng 0,5% so với năm 2019. Tiêu dùng gạo thế giới năm 2020 dự kiến đạt 490,2 triệu tấn, tăng khoảng 0,9% so với năm 2019. 

Gạo Việt có cơ hội “đoạt ngôi” gạo Thái Lan

Với mức giá cạnh tranh và xuất khẩu đang tăng mạnh trở lại sau khi gỡ bỏ hạn ngạch, Việt Nam có cơ hội lớn để vượt qua Thái Lan về xuất khẩu gạo toàn cầu ngay trong năm nay.    

Theo Bộ Công Thương, trái ngược với xu hướng giảm của hầu hết các mặt hàng thuộc nhóm nông sản, xuất khẩu mặt hàng gạo đã tăng mạnh sau khi Chính phủ cho xuất khẩu gạo bình thường trở lại từ ngày 1/5.

Ước tính, xuất khẩu gạo của Việt Nam trong tháng 5/2020 tăng mạnh 47% về lượng và 55,3% về trị giá so với tháng 4/2020, đồng thời tăng 11,7% về lượng và 35,7% về trị giá so với cùng kỳ năm 2019, đạt 750 nghìn tấn, trị giá 395 triệu USD.

Đáng chú ý, giá xuất khẩu gạo của Việt Nam trong tháng 5/2020 cũng tăng lên mức cao nhất trong nhiều năm qua với giá bình quân đạt 527 USD/tấn, tăng 5,6% so với tháng 4/2020 và tăng 21,4% so với cùng kỳ năm 2019. Trong 5 tháng đầu năm 2020, giá xuất khẩu gạo của nước ta đã tăng 13% so với cùng kỳ năm 2019, đạt bình quân 485 USD/tấn.

Với mức giá cạnh tranh và xuất khẩu đang tăng mạnh trở lại sau khi gỡ bỏ hạn ngạch, Việt Nam có cơ hội lớn để vượt qua Thái Lan về xuất khẩu gạo toàn cầu ngay trong năm nay. Theo Bộ Thương mại Thái Lan, xuất khẩu gạo của nước này trong 4 tháng đầu năm 2020 chỉ đạt 2,11 triệu tấn, trị giá 43,046 triệu baht (1,387 tỷ USD), giảm mạnh 32,1% về lượng và 15,7% về trị giá so với mức 3,11 triệu tấn trị giá 51,07 triệu baht (1,62 triệu USD) của cùng kỳ năm 2019.

Xuất khẩu gạo đang đứng trước cơ hội lớn khi Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) sắp có hiệu lực. Theo các doanh nghiệp xuất khẩu gạo, EVFTA có hiệu lực có thể không khiến kim ngạch XK gạo tăng đột biến, song sẽ là cơ hội rất lớn để đa dạng hóa thị trường cho gạo XK. Việc có mặt ở một trong những thị trường có đòi hỏi cao nhất thế giới cũng là cơ hội cho gạo Việt Nam quảng bá thương hiệu và vào được nhiều thị trường khác.

Cùng với EVFTA, năm 2020, một số thuận lợi khác cũng đến với gạo Việt khi trong khuôn khổ tham vấn song phương với Hàn Quốc về việc nước này thuế hóa mặt hàng gạo trong khuôn khổ WTO, Việt Nam đã ký kết với Hàn Quốc hai văn bản là Thỏa thuận nhiều bên giữa Hàn Quốc và 5 đối tác WTO (gồm Australia, Hoa Kỳ, Trung Quốc, Thái Lan và Việt Nam), về việc phân bổ hạn ngạch thuế quan; Thư trao đổi song phương giữa Việt Nam và Hàn Quốc về phân bổ hạn ngạch thuế quan. Theo đó, kể từ ngày 1/1/2020, bên cạnh việc phân bổ 20 nghìn tấn gạo cho tất cả thành viên WTO, Hàn Quốc sẽ dành cho Việt Nam hạn ngạch riêng là 55.112 tấn gạo. Lượng hạn ngạch phân bổ cho Việt Nam bao gồm các loại gạo mà Việt Nam có thể trồng và xuất khẩu.

Những mô hình mới cho cây lúa ở An Giang

NDĐT – Tại An Giang, dẫu chưa có những mô hình thực sự xuất sắc nhưng với sự liên kết triển khai hàng chục năm qua và kinh nghiệm phát triển thì mô hình liên kết cánh đồng lớn nâng cao thành chuỗi giá trị lúa gạo bền vững của Tập đoàn Lộc Trời, liên kết sản xuất lúa Nhật của Công ty TNHH Angimex Kitoku và vùng chuyên canh nếp Phú Tân là những cách làm hay đáng nhân rộng.

Trong bối cảnh cây lúa ĐBSCL đứng trước quá nhiều những thách thức, chúng ta buộc phải xem lại những mô hình phát triển nào thực sự bền vững cho cây lúa để giữ vững thế mạnh chủ lực. Đây là điều trăn trở của chính những nhà khoa học, nhà hoạch định chiến lược và chính bà con nông dân.

Với mô hình liên kết trồng lúa Nhật, từ năm 2000, Công ty TNHH Angimex Kitoku triển khai thực hiện hợp đồng tiêu thụ lúa Nhật với nông dân trên địa bàn tỉnh An Giang. Tuy nhiên, việc liên kết lỏng lẻo thời gian đầu chưa thể thu hút nông dân tham gia tăng cường tính liên kết. Đến năm 2009, khi Hội Nông dân tỉnh An Giang chịu trách nhiệm chính trong xây dựng mô hình sản xuất lúa Nhật ở An Giang với hai đề án hợp tác sản xuất lúa Nhật giữa Hội nông dân cùng với Công ty thì diện tích tăng lên 800 ha/năm. Và từ đó đến nay, bình quân mỗi năm diện tích sản xuất lúa Nhật ở An Giang có từ 1.500 – 2.000 ha.

Việc ký kết này còn có sự gắn kết chặt chẽ hơn khi thành lập tổ hợp tác sản xuất lúa Nhật, qua đó, ngày càng gắn bó chặt chẽ hơn giữa nông dân và Công ty, bảo đảm nông dân lợi nhuận tăng cao trên 30% theo quyết định của Chính phủ.

Nông dân Nguyễn Văn Bình, xã Vọng Thê, huyện Thoại Sơn, An Giang cho biết, gia đình ông sản xuất 5 ha lúa hàng hóa, năm nào cũng vậy vào vụ thu hoạch là giá lúa hay sụt giảm, cộng với thương lái thu mua ép giá nên lãi rất thấp, thậm chí vụ không có lời. Nắm bắt được thông tin Công ty TNHH Angimex Kitoku triển khai thực hiện hợp đồng tiêu thụ lúa Nhật với nông dân trên địa bàn, ông đã đến tìm hiểu và thấy có lợi nên mạnh dạn đăng ký tham gia. Nhận thấy mô hình này hiệu quả hơn so với sản xuất lúa hàng hóa, từ vụ thứ hai ông Bình đã thuê thêm 15 ha đất để sản xuất lúa Nhật.

Trước đây, mô hình trồng lúa Nhật của Công ty TNHH Angimex Kitoku trực tiếp ký kết với nông dân, tuy nhiên chưa thu hút được nông dân tham gia nhiều. Vậy nên, để nâng cao hiệu quả kinh tế và chất lượng cho nguồn giống của mô hình, Hội Nông dân An Giang đã thành lập Ban Điều hành xây dựng mô hình liên kết hợp tác sản xuất lúa Nhật tại 5 huyện, thành phố với 27 xã thuộc phạm vi đề án. Tổng số hộ tham gia mô hình theo từng vùng đúng quy hoạch của tỉnh. Ban đầu, với mức duy trì từ 25 – 30 tổ hợp tác sản xuất liên xã với diện tích dao động khoảng 4.000 ha, trong đó khoảng 150 ha diện tích giống cung ứng cho chính mô hình. Đến nay, An Giang đã có 40 tổ hợp tác với hơn 1.400 thành viên, tổng diện tích canh tác lên tới 3.900 ha.

Theo ông Châu Văn Ly, Chủ tịch Hội Nông dân tỉnh An Giang đánh giá, thông qua các cấp Hội Nông dân liên kết giữa Công ty và người nông dân rất tốt, mô hình này đang rất hiệu quả, khi giá cả ổn định, được Công ty thu mua đúng theo hợp đồng nên nông dân đăng ký tham gia ngày một nhiều hơn. Ngay cuối tháng ba vừa qua, Bộ Trưởng NN&PTNT Nguyễn Xuân Cường sau khi tham quan nhà máy chế biến của Công ty và quy trình liên kết cũng đã đánh giá đây là một trong những mô hình liên kết bền vững.

Hay mô hình chuỗi giá trị hạt gạo của Tập đoàn Lộc Trời nối gót và phát triển mạnh mẽ hơn sau khi triển khai thành công cánh đồng lớn. Ông Huỳnh Văn Thòn, Tổng Giám đốc Tập đoàn Lộc Trời nói về mô hình này cho biết, chương trình sản xuất lúa gạo bền vững, gọi tắt là SRP (Diễn đàn Lúa gạo bền vững Quốc tế). SRP chính là bộ tiêu chuẩn có các chỉ số đo lường cụ thể, nhấn mạnh đến các yếu tố kinh tế – xã hội, môi trường, với tầm nhìn phát triển bền vững, trong đó chú trọng kiểm soát việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật phù hợp, giảm thiểu khí thải nhà kính. Khi thực hiện tiêu chuẩn SRP sẽ giúp hoạt động sản xuất lúa gạo có được ba lợi ích quan trọng: Nông dân thực hành hiệu quả hơn, tiếp cận được chuỗi cung ứng minh bạch, việc sản xuất sạch giúp bảo đảm các yếu tố về y tế và môi trường. Nhà sản xuất kiểm soát được chất lượng, bảo đảm an toàn thực phẩm, giảm thiểu rủi ro, gia tăng mức độ thu hồi sản phẩm. Nâng cao thương hiệu, tăng cường lòng tin của khách hàng, nâng cao quyền thương lượng đối với nhà bán lẻ và sẽ bán được sản phẩm với giá cao hơn.

Thực hiện mô hình chuỗi lúa gạo khép kín, Tập đoàn Lộc Trời đã liên kết 25.000 nông hộ, tổ chức lại sản xuất, cung cấp giống, hỗ trợ vật tư nông nghiệp cho nông dân và xây dựng thành những Cánh Đồng Lớn với quy mô 60.000 ha/năm. Hiện đơn vị có hệ thống năm nhà máy chế biến với công nghệ tiên tiến, cung cấp ra nhiều sản phẩm gạo cho thị trường nội địa và quốc tế với chất lượng cao và truy xuất được nguồn gốc.

Đánh giá về mô hình trên, ông Huỳnh Thế Năng, Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam cho rằng, trong bối cảnh diễn biến thời tiết bất lợi với biến đổi khí hậu và thị trường thế giới có những biến động thì cây lúa Việt Nam đã có hướng mở mới đang diễn ra chính từ vựa lúa An Giang với chuỗi giá trị của sản xuất lúa gạo bền vững với mô hình liên kết cánh kết cánh đồng lớn, HTX nông nghiệp kiểu mới của Tập đoàn Lộc Trời đưa hạt lúa vào quy trình sản xuất khép kín. Đó là nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp sạch, giá trị cao. Đây là khâu yếu của nông nghiệp chúng ta hiện nay.

Bên cạnh đó, mô hình cách đồng lớn của Tập đoàn cũng tạo nên một chuyển biến mới trong sản xuất lúa gạo tập trung, quy mô lớn; Hình thành chuỗi giá trị sản xuất lúa gạo bền vững. Đặc biệt, những năm qua, đơn vị đã hình thành các trung tâm chế biến công suất hàng trăm nghìn ha, thực hiện bao tiêu sản phẩm lúa gạo cho người nông dân; tạo ra chuỗi giá trị từ giống đến hạt gạo xuất khẩu được sản xuất theo quy trình nghiêm ngặt theo hướng hữu cơ, sạch và giá trị cao.

Giá trị hạt gạo gia tăng giúp nông dân bám với ruộng đồng.

Việt Nam – Bờ Biển Ngà đẩy mạnh giao thương hạt điều và gạo

Bờ Biển Ngà hoan nghênh các đề xuất hợp tác của phía Việt Nam và đề nghị phía Việt Nam giúp đỡ nâng cao năng suất cây điều và từng bước chuyển giao công nghệ chế biến điều.

Nhận lời mời của Bộ Ngoại giao nước Cộng hòa Bờ Biển Ngà (IVC), từ ngày 16 – 19/4/2017, Bộ Ngoại giao và Bộ NN-PTNT nước ta do Thứ trường Võ Hồng Nam và Thứ trưởng Trần Thanh Nam dẫn đầu đã có chuyến thăm và làm việc chính thức với các cơ quan hữu quan của Bờ Biển Ngà.

Việt Nam và Bờ Biển Ngà tăng cường hợp tác, tạo điều kiện phát triển giao thương hạt điều và gạo.

Theo chương trình, đoàn đã đến chào xã giao Chủ tịch Quốc hội và Phó Tổng thống Bờ Biển Ngà. Đoàn đã có các cuộc làm việc với Bộ Ngoại giao, Bộ Công thương, Bộ Nông nghiệp, Hội đồng Bông và Điều Bờ Biển Ngà, Hiệp hội những nhà xuất khẩu điều của Bờ Biển Ngà.

Trong các cuộc làm việc, đoàn Việt Nam cam kết sẽ chia sẻ kinh nghiệm trong việc thâm canh, tăng năng suất điều, cũng như kỹ thuật trồng lúa nước cho bạn. Phía Việt Nam cũng tỏ thiện chí sẵn sàng cho việc hợp tác kinh tế, thương mại, làm ăn lâu dài ở Bờ Biển Ngà cho những ngành mà Việt Nam có thế mạnh khi có điều kiện, mong muốn tìm đối tác để có thể thực hiện chương trình “đổi gạo lấy điều”.

Phía bạn hoan nghênh các đề xuất hợp tác của phía Việt Nam và đề nghị phía Việt Nam giúp đỡ nâng cao năng suất cây điều và từng bước chuyển giao công nghệ chế biến điều cho bạn.

Tại Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam – IVC tổ chức ngày 19/4/2017 tại Trung tâm Hội nghị quốc tế của Phòng Thương mại Tiểu thủ Công nghiệp, phía Bờ Biển Ngà đã trình bày các chính sách ưu đãi đầu tư, một số chương trình quốc gia đầy tham vọng. Trong đó chú trọng vấn đề đẩy mạnh tăng cường khu vực kinh tế tư nhân và coi đây là đòn bẩy để đưa nền kinh tế phát triển, giữ vững tốc độ tăng trưởng khoảng 9%/ năm vào các năm tiếp theo. Phấn đấu đến năm 2020, Bờ Biển Ngà sẽ có 1 triệu tấn hạt điều thô và chế biến tại chỗ để xuất khẩu. Các nhà lãnh đạo IVC cũng rất tự hào vì họ đứng trong top 10 nền kinh tế mới nổi của châu Phi theo xếp hạng của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF).

Phía Việt Nam cho rằng, vấn đề chuyển giao công nghệ chế biến điều là vấn đề rất phức tạp, phải làm từ từ có lộ trình và do doanh nghiệp hai nước thỏa thuận, không nên nôn nóng, tránh phải trả giá đắt như Việt Nam trước đây.

Một nhóm các doanh nghiệp Việt Nam tham gia diễn đàn lần này cam kết sẽ hoàn chỉnh đề án “Khảo sát, đưa ra giải pháp cải tạo hoặc trồng mới vườn điều cho Bờ Biển Ngà” và sẽ gửi cho Hội đồng Bông & Điều Bờ Biển Ngà vào tháng 11 năm nay khi ông Tổng Giám Đốc Hội đồng tới Việt Nam tham dự Hội nghị điều quốc tế thường niên của Hiệp hội Điều Việt Nam.

Tại diễn đàn lần này, cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam đang làm ăn và sinh sống tại Bờ Biển Ngà cũng đề nghị Chính phủ Việt Nam sớm đặt cơ quan ngoại giao tại Bờ Biển Ngà nhằm giúp bà con yên tâm làm ăn, kinh doanh. Đề nghị Chính phủ chỉ đạo Ngân hàng Nhà nước tạo điều kiện để ngân hàng thương mại đặt chi nhánh tại Bờ Biển Ngà, các doanh nghiệp Việt Nam cũng đề nghị Chính phủ Bờ Biển Ngà quan tâm đầu tư cơ sở hạ tầng (đường, kho, cảng, năng lực bốc xếp, vận chuyển,…) nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho việc làm ăn của doanh nghiệp hai nước.

Những mô hình mới cho cây lúa ở An Giang

Tại An Giang, dẫu chưa có những mô hình thực sự xuất sắc nhưng với sự liên kết triển khai hàng chục năm qua và kinh nghiệm phát triển thì mô hình liên kết cánh đồng lớn nâng cao thành chuỗi giá trị lúa gạo bền vững của Tập đoàn Lộc Trời, liên kết sản xuất lúa Nhật của Công ty TNHH Angimex Kitoku và vùng chuyên canh nếp Phú Tân là những cách làm hay đáng nhân rộng. Xem thêm